Danh sách bác sĩ


GẶP BÁC SĨ GỌI 1900 1246


TRÁNH TỰ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC HOẶC KHÁM BỆNH KHÔNG PHÙ HỢP


Nguyên nhân gây viêm thực quản
Viêm thực quản thường được phân loại theo các điều kiện gây ra nó. Trong một số trường hợp, nhiều hơn một yếu tố có thể gây ra viêm thực quản.

Viêm thực quản trào ngược
Một cấu trúc van được gọi là cơ vòng thực quản dưới, thường giữ tránh tính axit của dạ dày lên thực quản. Nếu van này mở ra khi nó không hoặc không đóng đúng cách, thành phần của dạ dày có thể sao lưu vào (trào ngược dạ dày thực quản) thực quản. Trào ngược dạ dày thực quản bệnh (GERD) là một tình trạng mà trong đó dòng chảy của axit là một vấn đề thường xuyên hoặc liên tục. Một biến chứng tiếp theo của GERD là tình trạng viêm mãn tính và tổn thương mô trong thực quản.

Eosinophilic viêm thực quản
Bạch cầu ái toan là những tế bào máu trắng điều tiết chứng viêm và đóng một vai trò quan trọng trong các phản ứng dị ứng. Eosinophilic viêm thực quản xảy ra với nồng độ cao của các tế bào máu trắng trong thực quản, nhiều khả năng để đáp ứng với một tác nhân gây dị ứng (dị ứng).
Trong nhiều trường hợp, những người có loại thực quản bị dị ứng với một hoặc nhiều loại thực phẩm. Chất gây dị ứng thực phẩm có thể gây viêm thực quản eosinophilic bao gồm sữa, trứng, lúa mì, đậu nành, lạc, lúa mạch đen và thịt bò. Những người bị viêm thực quản eosinophilic có thể bị dị ứng không phải thực phẩm. Ví dụ, chất gây dị ứng hít vào, chẳng hạn như phấn hoa, có thể là nguyên nhân trong một số trường hợp.

Viêm thực quản do thuốc
Một số thuốc uống có thể gây tổn thương mô nếu vẫn tiếp xúc với niêm mạc thực quản trong một thời gian kéo dài. Ví dụ, nếu nuốt một viên thuốc với nước ít hoặc không có, các viên thuốc tự mình hoặc dư lượng từ viên thuốc này có thể vẫn còn lại trong thực quản. Các loại thuốc có liên quan đến viêm thực quản, bao gồm:
- Aspirin và các thuốc không steroid khác chống viêm (NSAID) như ibuprofen và naproxen.
- Thuốc kháng sinh, chẳng hạn như tetracycline và doxycycline.
- Kali clorua, được sử dụng để điều trị thiếu kali.
- Các thuốc bisphosphonates, bao gồm alendronate, điều trị cho xương yếu và dễ gãy (loãng xương).

Viêm thực quản truyền nhiễm
Viêm thực quản cũng có thể được gây ra do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, siêu vi, nấm hay ký sinh trùng trong các mô của thực quản. Truyền nhiễm viêm thực quản là tương đối hiếm và thường xảy ra ở những người có chức năng hệ thống miễn dịch kém, chẳng hạn như những người có HIV / AIDS hoặc ung thư.
Một loại nấm thường hiện diện trong miệng được gọi là Candida albicans là một nguyên nhân phổ biến của viêm thực quản truyền nhiễm. Nhiễm trùng này thường kết hợp với chức năng hệ thống miễn dịch kém, tiểu đường và sử dụng kháng sinh.

Yếu tố nguy cơ
Yếu tố nguy cơ viêm thực quản phụ thuộc vào nguyên nhân khác nhau của sự rối loạn.
Viêm thực quản trào ngược
Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) - do đó những yếu tố trong viêm thực quản trào ngược bao gồm:
- Bệnh béo phì.
- Hút thuốc.
- Mang thai.
- Thoát vị, một điều kiện trong đó dạ dày đẩy thông qua cơ hoành nơi thực quản nối với dạ dày.
Một số loại thực phẩm có thể gây các triệu chứng của viêm thực quản trào ngược GERD:
- Cà chua.
- Trái cây có múi.
- Caffeine.
- Rượu.
- Gia vị thực phẩm.
- Tỏi và hành tây.
- Sôcôla.
- Eosinophilic viêm thực quản
Yếu tố nguy cơ viêm thực quản eosinophilic, hoặc viêm thực quản có liên quan đến dị ứng, có thể bao gồm:
- Một sử gia đình rối loạn, cho thấy một gen hoặc những gen có thể làm tăng nguy cơ viêm thực quản eosinophilic.
- Một sử gia đình bị dị ứng.
- Viêm thực quản do thuốc
Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ viêm thực quản do thuốc thường liên quan đến vấn đề ngăn chặn nhanh chóng thông và hoàn toàn của một viên thuốc vào dạ dày. Những yếu tố này bao gồm:
- Nuốt một viên thuốc với ít hoặc không có nước.
- Uống thuốc trong khi nằm.
- Lấy thuốc ngay trước khi ngủ, có lẽ một phần do sản xuất ít hơn và nuốt nước bọt ít trong khi ngủ.
- Lớn tuổi, có thể do thay đổi độ tuổi có liên quan đến các cơ của thực quản hoặc sản xuất giảm tiết nước bọt.
- Lớn hoặc hình viên thuốc kỳ lạ.
- Duy trì dùng thuốc.
Viêm thực quản truyền nhiễm
Các yếu tố nguy cơ chính đối với viêm thực quản truyền nhiễm là người nghèo chức năng hệ thống miễn dịch do điều kiện như HIV / AIDS, một số bệnh ung thư, điều trị ung thư nhất định, các loại thuốc ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch đến các bộ phận cấy ghép (ức chế miễn dịch) và rối loạn hệ miễn dịch khác nhau.
- Tổn thương giải phẫu bệnh lý:
- Xung huyết, phù nề niêm mạc.
- Hoại tử và phù lớp sâu.
- Có ổ loét.

Triệu chứng và biến chứng bệnh viêm thực quản
Dấu hiệu thường gặp và triệu chứng của viêm thực quản, bao gồm:
- Khó nuốt (chứng khó nuốt).
- Đau nuốt (odynophagia).
- Nôn ra máu.
- Có khi viêm nặng gây rối loạn tim mạch, loạn nhịp tim, loạn nhịp thở, suy kiệt cơthể.
- Đau ngực, đặc biệt phía sau xương ức xảy ra với ăn uống.
- Nuốt thức ăn trở nên khó khăn trong (impaction thực phẩm) thực quản.
- Buồn nôn.
- Ói mửa.
- Đau dạ dày.
- Trào ngược nước bọt.
- Giảm sự thèm ăn.
- Ở trẻ nhỏ, đặc biệt là những người quá trẻ, để giải thích khó chịu hay đau đớn, dấu hiệu của viêm thực quản có thể bao gồm:
- Cho ăn khó khăn.
- Không phát triển mạnh.
Hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng của viêm thực quản có thể được gây ra bởi một số điều kiện khác nhau ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. Đi khám bác sĩ nếu có dấu hiệu hay triệu chứng:
- Kéo dài hơn một vài ngày.
- Không cải thiện hoặc đi xa với thuốc kháng acid toa.
- Là nghiêm trọng đủ để ăn khó khăn.
- Kèm theo các triệu chứng cúm, như sốt, nhức đầu và đau nhức cơ bắp.
- Có kèm theo khó thở hoặc đau ngực không kích hoạt ngay lập tức với ăn uống.
- Nếu có tiền sử bệnh tim, gặp bác sĩ nếu gặp đau ngực bất kỳ.
Được chăm sóc khẩn cấp nếu :
Trải nghiệm đau ngực kéo dài hơn một vài phút.
Nghi ngờ có thức ăn trong thực quản.
- X-quang chụp thực quản thấy hình ảnh:
+ Viêm: bờ thực không nhẵn có những hình răng cưa nhỏ. Các nếp niêm mạc thô, to, thưa, không có phương hướng rõ ràng, có khi bị gián đoạn, mờ.
+ Loét thực quản: thành thực quản có hình đọng thuốc tròn, có quầng phù nề ở phía nền và hình quy tụ niêm mạc. Về phía thành đối diện ổ đọng thuốc có hình co thắt.
- Soi thực quản: thấy niêm mạc đỏ, mạch máu cương tụ, có những mảng biểu mô bong ra, thấy những ổ loét, ổ hoại tử.
Chuẩn đoán bệnh viêm thực quản:
- Sau các nguyên nhân nêu trên bệnh nhân thấy khó nuốt.
- Hội chứng Plummer-Vinson: khó nuốt kèm theo cảm giác đè nén ở cổ họng.
- Đau, nóng rát vùng giữa ức.
- X-quang, nội soi thấy thực quản tổn thương.
Biến chứng của bệnh viêm thực quản:
- Thủng: đau dữ dội khu trú ở cổ (thủng đoạn thực quản cổ), đau khu vùng lưng, sau xương ức, thượng vị (thủng đoạn thực quản ngực). Mạch nhanh, khó thở, nhiệt độ cao 38-390C.
- Viêm màng phổi
- Viêm màng tim.
- Viêm thanh thực quản
- Hẹp thực quản.
- Phát triển tổ chức hạt.

Nguồn: camnangbenh.com

Tài trợ
 
GẶP BÁC SĨ TRỰC TIẾP
1900-1246

Phone: 909đ/phút trên toàn quốc

 

Tài trợ
Quảng cáo - Giảm 50%
15K/ngày
Liên hệ: 0906 634 600
Hello Doctor Footer

CÔNG TY HELLO DOCTOR
210A Trần Bình Trọng, P4, Q5, HCM
Điện thoại: (+84) 1900 1246

© Bản quyền thuộc về công ty Hello Doctor
Thông tin trong trang chaobs.com chỉ có tính chất tham khảo.
Người xem không được dựa vào nội dung của trang web để tự chẩn đoán và điều trị cho mình.

Hello Doctor Footer Facebook
Hello Doctor Footer Google+
Hello Doctor Footer RSS
Hello Doctor Footer Skype
Hello Doctor Footer Zalo
Hello Doctor Footer Viber
loading hellodoctor Đang xử lý...